TIN TỨC

Hiệu quả kinh tế xã hội từ đề án 818

Kế hoạch hóa gia đình là sự điều chỉnh sinh con sao cho phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, có thể là hạn chế, cũng có thể là thúc đẩy sinh con. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì kế hoạch hóa gia đình là làm sao hạn chế được sự gia tăng dân số. Do vậy, cách tốt nhất để mọi người thực hiện tốt điều này là mỗi người cần phải có các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.

Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai (PTTT), hàng hóa và dịch vụ SKSS/KHHGĐ – Một chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước
Theo tìm hiểu của PV, từ năm 1962 đến nay, các PTTT, hàng hóa SKSS/KHHGĐ được Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách “bao cấp” (phát miễn phí) cho người dân, chiếm tới 60% thị phần. Chính sách này làm gia tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
Theo công bố của Ngân hàng thế giới (WB), tỷ trọng nợ công so với GDP của Việt Nam tăng nhanh: năm 2011 là 50%; đến năm 2014 đã lên tới 59,6% và 79,6% trong năm 2015. Theo dự báo của Bộ Tài chính, tổng dư nợ công có thể đạt mức đỉnh điểm xấp xỉ 65% GDP vào cuối năm 2017. Để ứng phó với tình trạng này, Nhà nước thực hiện cắt giảm ngân sách ở tất cả các lĩnh vực đầu tư công, trong đó có ngân sách dành cho công tác DS-KHHGĐ.
Để bù đắp nguồn ngân sách thiếu hụt thì xã hội hóa công tác DS-KHHGĐ (còn gọi là công tư kết hợp-PPP) là một giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính chiến lược. Phương thức này vừa giảm tải gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, vừa mở rộng và đẩy nhanh tiến độ cung cấp PTTT, dịch vụ và hàng hóa SKSS/KHHGĐ có chất lượng cao để thỏa mãn kịp thời yêu cầu của nhân dân đối với những hàng hóa, dịch vụ liên quan đến sức khỏe. Đây chính là cơ sở và động lực cho sự phát triển bền vững của chương trình DS-KHHGĐ trong thế kỳ XXI.
Đề án “Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản tại khu vực thành thị và nông thôn phát triển” (gọi là Đề án 818) được Tổng cục DS-KHHGĐ triển khai là một bước cụ thể hóa chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đề án sẽ đánh dấu một sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy cũng như trong phương thức tổ chức thực hiện cung cấp PTTT, hàng hóa và dịch vụ SKSS/KHHGĐ. Đề án sẽ huy động, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia cung cấp PTTT, hàng hóa và dịch vụ SKSS/KHHGĐ có chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu CSSK của nhân dân, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia Dân số – Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước.

Đề án 818 góp phần phát triển kinh tế tại địa bàn triển khai đề án, vừa đáp ứng được nhu cầu của người dân và tạo sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.
Triển khai Đề án sẽ từng bước đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội ngày càng cao, bảo đảm tính bền vững của Chương trình DS-KHHGĐ. Góp phần trực tiếp thực hiện mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa công tác y tế/dân số. Lần đầu tiên có một đề án triển khai tổng thể các giải pháp, chính sách cụ thể thực hiện hóa các chính sách của Đảng Nhà nước về xã hội hóa công tác y tế, dân số.
Đối tượng thụ hưởng của Đề án được mở rộng đa dạng, ngoài các đối tượng chính sách được thụ hưởng từ Chương trình, chính sách của Nhà nước. Những đối tượng có nhu cầu sử dụng PTTT và dịch vụ KHHGĐ/SKSS được tiếp cận và lựa chọn những dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ, tạo sự thỏa mãn, tăng tình bền vững.
Những đơn vị, tổ chức cung cấp dịch vụ được ưu đãi để phát triển, cung cấp những sản phẩm có chất lượng theo phân khúc thị trường theo khả năng, tránh cạnh tranh không lành mạnh. Từ đó phát triển thương hiệu và đạt hiệu quả đầu tư. Những đối tượng của Đề án vừa được hưởng lợi, đồng thời là những đối tượng tiềm năng, đóng vai trò là nguồn đầu tư xã hội cho thị trường PTTT, hàng hóa KHHGĐ/SKSS và dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Góp phần củng cố, phát triển mạng lưới cung ứng PTTT, hàng hóa KHHGĐ/SKSS và cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS thành thị trường tổng thể, đảm bảo an ninh hàng hóa và dịch vụ KHHGĐ/SKSS. Đáp ứng với xu thế kinh tế thị trường và hội nhập xã hội, quốc tế.
Đối với Chương tình DS-KHHGĐ và các chương trình chăm sóc sức khỏe nhân dân khác, việc triển khai Đề án sẽ góp phần khắc phục những hạn chế đã nêu trong văn bản Đề án này; đặc biệt là tạo điều kiện để đảm bảo mục tiêu của chương trình theo Chiến lược Dân số – SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong khi nguồn lực chi cho Chương trình từ ngân sách nhà nước hạn chế, tạo nên sự triển khai toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả hơn công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Bài viết liên quan