TIN TỨC

Đề án 818 – Vì sự phát triển bền vững của chương trình dân số

​Những năm gần đây, để giảm tốc độ gia tăng dân số nhanh, Việt Nam thực hiện chính sách “bao cấp” cho người dân khi sử dụng dịch vụ tránh thai. Ngân sách Nhà nước chi trả cho cơ sở y tế công lập gồm cấp không thu tiền (miễn phí) các phương tiện tránh thai (PTTT), hàng hóa và chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản (KHHGĐ/SKSS). Cơ chế này đã từng bước hình thành tâm lý “bao cấp” của người dân trong sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS.

Những năm gần đây, để giảm tốc độ gia tăng dân số nhanh, Việt Nam thực hiện chính sách “bao cấp” cho người dân khi sử dụng dịch vụ tránh thai. Ngân sách Nhà nước chi trả cho cơ sở y tế công lập gồm cấp không thu tiền (miễn phí) các phương tiện tránh thai (PTTT), hàng hóa và chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản (KHHGĐ/SKSS). Cơ chế này đã từng bước hình thành tâm lý “bao cấp” của người dân trong sử dụng dịch vụ KHHGĐ/SKSS.
Trước năm 2011, 80% tổng cầu PTTT tại Việt Nam được hỗ trợ từ nguồn vốn ODA của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế. Từ năm 2011, khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, các nhà tài trợ quốc tế chuyển trọng tâm hỗ trợ sang lĩnh vực khác hoặc quốc gia khác, đến nay chưa có nhà tài trợ quốc tế nào cam kết nguồn vốn ODA để hỗ trợ PTTT cấp “miễn phí” như trước đây. Ngân sách Nhà nước trung ương thay thế nguồn vốn ODA mua PTTT, nhằm tránh cho Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu hụt các PTTT. Việc thiếu hụt các PTTT trong Chương trình DS-KHHGĐ có thể dẫn tới tăng số phụ nữ mang thai hay số sinh con ngoài ý muốn, tăng số ca phá thai hay tăng dân số, nhất là vùng mức sinh cao, mức sinh chưa ổn định. Đây sẽ là gánh nặng về chi phí cho cá nhân và gia đình, tạo áp lực lên hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân và an sinh xã hội của Việt Nam.
Với xu thế phát triển nhanh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay, Ngân sách Nhà nước không thể tiếp tục “bao cấp” cho tất cả các đối tượng, nhất là người có khả năng chi trả, người có sử dụng dịch vụ có chất lượng cao. Trên thực tế, một bộ phận người dân tại khu vực đô thị và nông thôn phát triển đã thanh toán giá dịch vụ y tế có chất lượng cao, trong đó bao gồm hàng hóa và phí dịch vụ y tế về KHHGĐ/SKSS.
Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra giải pháp “Huy động rộng rãi các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng tham gia công tác truyền thông, giáo dục, cung cấp dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản. Xây dựng và thực hiện lộ trình giảm dần mức độ bao cấp của Nhà nước”.

Xã hội hóa PTTT là biện pháp tăng đầu tư của xã hội trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ và trực tiếp tới đối tượng thụ hưởng.
Vài năm trở lại đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá công tác y tế, dân số, trong đó có dịch vụ KHHGĐ/SKSS như Luật Khám, chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành; các văn bản hướng dẫn thực hiện xã hội hóa công tác y tế, dân số; công bố giá dịch vụ y tế, KHHGĐ/SKSS; huy động các nguồn tài chính hỗ trợ chi trả dịch vụ y tế, KHHGĐ/SKSS cho đối tượng ưu tiên, chính sách… Công tác xã hội hoá y tế, dân số bước đầu đã thu được một số kết quả tích cực như: có sự tham gia, hưởng ứng của nhiều đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội (MSI, DKT, DHS, Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam..); các cơ sở y tế ngoài công lập (phòng khám sản, KHHGĐ tư nhân, phòng khám sản, KHHGĐ của các tổ chức xã hội, phi chính phủ) bước đầu đáp ứng một phần nhu cầu của người dân; xuất hiện nhiều loại hình xã hội hóa với các phương thức hoạt động khác nhau ở cả khu vực y tế công lập và ngoài công lập; huy động được một lượng đáng kể nguồn tài chính từ người dân và xã hội.
Tuy nhiên, xã hội hoá vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và tồn tại, hạn chế, đó là: nhận thức về xã hội hóa ở một bộ phận cán bộ, nhân dân còn chưa đầy đủ; tốc độ xã hội hoá còn chậm; cơ chế chính sách chưa đồng bộ, thiếu kế hoạch tổng thể; các cơ sở xã hội hóa chưa nhiều, quy mô còn nhỏ bé, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu, chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao; mức độ phát triển xã hội hoá còn thấp ở khu vực thành thị, nông thôn phát triển.
Trước thực tế đó, xây dựng và triển khai các giải pháp, cơ chế, chính sách tổng thể để đẩy nhanh xã hội hóa theo định hướng của Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản Việt Nam 2011-2020 là cần thiết, cấp bách và thực tế. Các giải pháp, cơ chế, chính sách tổng thể này vừa khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia, đồng thời mở rộng các loại hình cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Bài viết liên quan