DỰ ÁN

Công tác tiếp thị xã hội các PTTT tại Việt Nam phát huy hiệu quả tối đa (?)

Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) luôn được xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh tế XH.

Để thực hiện được những định hướng của Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động TTXH các phương tiện tránh thai, góp phần thay đổi nhận thức và chuyển đổi hành vi sử dụng phương tiện tránh thai từ cấp miễn phí sang tự chi trả, tạo cho khách hàng có thêm cơ hội lựa chọn các biện pháp tránh thai phù hợp, sử dụng thường xuyên và đúng cách, qua đó bảo đảm tính bền vững của các chương trình DS-KHHGĐ, nhất là phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền tình dục, HIV/AIDS.

Theo bà Lê Ánh Tuyết, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Cung ứng dịch vụ của Tổng cục Dân số-KHHGĐ, công tác TTXH bao cao su và viên uống tránh thai vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Đối tượng sử dụng chưa có thói quen chi trả cho các phương tiện tránh thai trong KHHGĐ, dù là rất rẻ, mà hầu hết khách hàng của chương trình DS-KHHGĐ muốn được cấp miễn phí.

Để thực hiện được điều này, Chi cục Dân số-KHHGĐ ở các tỉnh thành phố đã phối hợp với nhiều ban, ngành, đoàn thể lồng ghép trong lớp tập huấn, hội thảo, nói chuyện chuyên đề về TTXH các phương tiện tránh thai; tập huấn cho cộng tác viên dân số – sức khỏe cộng đồng về TTXH các phương tiện tránh thai. Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền cho người trên địa bàn tiếp cận với các phương tiện tránh thai hiện đại. Với các nỗ lực trong việc triển khai nhiệm vụ, việc TTXH các sản phẩm đã góp phần tăng nhanh số người sử dụng các biện pháp tránh thai, duy trì mức giảm sinh vững chắc.

Sau 50 năm thực hiện công tác DS-KHHGĐ, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong đó ấn tượng nhất là đã khống chế được tốc độ gia tăng dân số.

Để đạt được hiệu quả này là nhờ vào việc triển khai tích cực cung cấp dịch vụ KHHGĐ với những tiến bộ vượt bậc trong việc tăng nhanh và duy trì tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) cũng như đa dạng của các BPTT. Tuy nhiên, dù Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế nhưng mức sinh có sự khác biệt ở các vùng, miền.Cùng đó, nhu cầu dịch vụ KHHGĐ trong những năm tới tiếp tục tăng cao do số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng..

unnamed
Để giảm gánh nặng ngân sách, việc chuyển đổi hành vi từ sử dụng PTTT miễn phí sang tiếp thị xã hội PTTT là cần thiết.
Trước thực trạng và thách thức trên, chương trình dân số phải thực hiện “nhiệm vụ kép”: Vừa duy trì tốc độ giảm sinh ở những tỉnh chưa đạt mức sinh thay thế, vừa phải đề phòng thậm chí là có những chính sách khắc phục tình trạng mức sinh giảm quá thấp ở một số tỉnh, thành phố.

Hiện nay, có 63/63 tỉnh, thành phố phân công bộ phận TTXH do lãnh đạo Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh phụ trách. Có 8 tỉnh thành lập Ban quản lý TTXH các PTTT từ tỉnh đến huyện. Tại tuyến huyện có 611/697 huyện, quận phân công bộ phận TTXH do lãnh đạo Trung tâm DS-KHHGĐ phụ trách. Bộ phận TTXH tuyến huyện có nhiệm vụ nhận và cấp sản phẩm TTXH cho tuyến xã; cung cấp sản phẩm TTXH và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.

Có một khó khăn phát sinh: Hiện nay, các nguồn hỗ trợ PTTT của quốc tế cho Việt Nam bị cắt giảm nhiều (chiếm tỷ trọng trên 80% tổng kinh phí PTTT). Do đó, vấn đề được đặt ra là phải đảm bảo an ninh hàng hóa các PTTT và đáp ứng cung cấp cho những người có khả năng chi trả thông qua kênh thương mại và cung cấp miễn phí cho đối tượng nghèo

Mặc dù bên cạnh những khó khăn thách thức của tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai tại Việt Nam nhưng công tác tiếp thị đã phát huy hiệu quả tối đa nhờ đường lối, chính sách, chiến lược của đảng và nhà nước mà cụ thể là Tổng cục DS-KHHGD – Bộ y tế.

Với mục tiêu kế hoạch lâu dài thông qua các giai đoạn phát triển, công tác tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai tại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển sâu rộng và được sử ủng hộ nhiệt tình của người dân trong nuớc cũng như bạn bè, các tổ chức trên thế giới.

Bài viết liên quan